Lý thuyết và bài tập trắc nghiệm sự phát triển của sinh giới qua các đại địa chất
ONTHITHPT.com giới thiệu đến bạn đọc tài liệu lý thuyết trọng tâm và các dạng bài tập trắc nghiệm sự phát triển của sinh giới qua các đại địa chất trong chương trình Sinh học lớp 12.
Mục tiêu:
Kiến thức:
-
Nêu được khái niệm hóa thạch và phân tích được vai trò của hóa thạch trong nghiên cứu lịch sử phát triển của sinh giới.
-
Trình bày được những đặc điểm địa chất khí hậu và những sinh vật điển hình thể hiện sự phát triển của sinh giới qua các đại địa chất.
-
Phân tích được cơ sở phân chia lịch sử Trái Đất thành các niên đại.
-
Đưa ra được dự đoán về khí hậu của Trái Đất trong những thế kỉ và thiên niên kỉ tới. Nêu được một số biện pháp để ngăn chặn nạn diệt chủng có thể xảy ra do con người.
Kĩ năng:
-
Quan sát, phân tích tranh hình, video về hóa thạch, trôi dạt lục địa, các đại địa chất và các sinh vật tương ứng.
-
Lập bảng phân biệt các đại, các kỉ với các sinh vật và khí hậu tương ứng.
-
Đọc tài liệu về sự phát triển của sinh giới qua các đại địa chất.
I. LÍ THUYẾT TRỌNG TÂM
1. Hóa thạch và vai trò của các hóa thạch trong nghiên cứu lịch sử phát triển của sinh giới.
Hóa thạch là di tích của sinh vật để lại trong các lớp đất đá của vỏ Trái Đất. Hóa thạch thường gặp là các sinh vật bằng đá (có thể là toàn bộ cơ thể, có thể là một phần cơ thể), các mảnh xương, mảnh vỏ sinh vật hóa đá, đôi khi là xác sinh vật được bảo quản trong băng tuyết, trong hổ phách. Một số sinh vật hiện nay, rất ít hoặc không biến đổi so với trước đây được coi là dạng hóa thạch sống. Vai trò của hóa thạch: + Hóa thạch là bằng chứng trực tiếp để biết được lịch sử phát sinh, phát triển của sự sống. + Là dẫn liệu quý để nghiên cứu lịch sử vỏ Trái Đất. + Ngoài ra: Căn cứ vào tuổi của các lớp đất chứa hóa thạch → có thể xác định được tuổi thọ của hóa thạch. Từ tuổi những sinh vật hóa thạch → xác định được tuổi của lớp đất chứa chúng. Tuổi hóa thạch có thể được xác định nhờ phân tích các đồng vị phóng xạ có trong hóa thạch hoặc trong các lớp đất chứa hóa thạch. Ví dụ: thời gian bán rã của 14C là 5730 năm; của 238U là 4,5 tỉ năm.
2. Lịch sử phát triển của sinh giới qua các đại địa chất.
2.1. Hiện tượng trôi dạt lục địa Lớp vỏ Trái Đất không phải là một khối thống nhất mà được chia thành những vùng riêng biệt gọi là phiến kiến tạo. Lớp dung nham nóng chảy bên dưới các phiến kiến tạo chuyển động đã tạo nên hiện tượng trôi dạt lục địa. Những biến đổi về kiến tạo vỏ Trái Đất như tạo núi, trôi dạt lục địa dẫn đến làm thay đổi rất mạnh điều kiện khí hậu của Trái Đất, do đó có thể làm tuyệt chủng hàng loạt các loài và sau đó là thời điểm bùng nổ sự phát sinh loài mới. Siêu lục địa (Pangaea), cách đây 250 triệu năm → tách thành 2: lục địa Bắc (Laurasia) và lục đại Nam (Gondovvana), cách đây 180 triệu năm → các lục địa liên tiếp tách và nhập → Lục địa Ấn Độ sáp nhập với lục địa Âu – Á, cách đây 10 triệu năm → cuối cùng phân tách thành các lục địa như ngày nay. Hiện nay các lục địa vẫn đang trôi dạt. 2.2. Sinh vật trong các đại địa chất Lịch sử phát triển của sinh vật gắn liền với lịch sử phát triển của vỏ Trái Đất. Sự thay đổi các điều kiện địa chất, khí hậu đã thúc đẩy sự phát triển của sinh giới. Sự thay đổi điều kiện địa chất, khí hậu thường dẫn tới sự biến đổi trước hết ở thực vật và qua đó ảnh hưởng tới động vật. Sự thay đổi đó có thể ảnh hưởng đến một số loài rồi thông qua những mối quan hệ phức tạp giữa sinh vật với sinh vật trong hệ sinh thái mà ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều loài khác. Vì vậy, sự phát triển của sinh giới đã diễn ra nhanh hơn sự thay đổi chậm chạm của điều kiện khí hậu, địa chất. Sau mỗi lần tuyệt chủng hàng loạt, những sinh vật sống sót bước vào giai đoạn bùng nổ sự phát sinh các loài mới và chiếm lĩnh các ổ sinh thái còn trống. SƠ ĐỒ HỆ THỐNG HÓA.
II. CÁC DẠNG BÀI TẬP