Lý thuyết và câu hỏi trắc nghiệm tình hình các nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)
ONTHITHPT.com giới thiệu đến bạn đọc tài liệu lý thuyết trọng tâm và câu hỏi trắc nghiệm tình hình các nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939) trong chương trình Lịch sử lớp 11.
Mục tiêu:
Kiến thức:
-
Trình bày được những nét chính về quá trình thiết lập và hiểu được bản chất của trật tự thế giới mới theo hệ thống Vecxai – Oasinhtơn. Đánh giá được tác động của sự thiết lập trật tự đó đối với cục diện chính trị châu Âu và thế giới.
-
Hiểu được nguyên nhân cơ bản và hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933.
-
Tóm tắt được những nét chính về tình hình Đức, Mĩ, Nhật trong những năm khủng hoảng kinh tế và lối thoát của các nước ra khỏi khủng hoảng.
-
Hiểu được bản chất của chủ nghĩa phát xít và hình thành khái niệm “chủ nghĩa phát xít”.
Kĩ năng:
-
Quan sát, khai thác bản đồ, tranh ảnh để nhận xét, đánh giá.
-
Phân tích, xử lý số liệu trong các biểu đồ, bảng thống kê để giải thích một số vấn đề lịch sử.
-
So sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa để nắm được bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử.
I. LÍ THUYẾT TRỌNG TÂM
TÌNH HÌNH CÁC NƯỚC TƯ BẢN GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918 – 1939) 1. Thiết lập trật tự thế giới mới theo hệ thống Vécxai – Oasinhtơn – Quá trình thiết lập: + Được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. + Thông qua thỏa thuận của các cường quốc thắng trận tại Hội nghị Vécxai (1919 – 1920) và Oasinhtơn (1920 – 1921). – Đặc điểm: + Phản ánh tương quan lực lượng mới giữa các nước tư bản. + Là sự xác lập ách nô dịch của các nước tư bản thắng trận đối với các nước tư bản bại trận và các dân tộc thuộc địa. + Thành lập Hội Quốc liên làm công cụ duy trì trật tự thế giới. + Chứa đựng nhiều mâu thuẫn: – Giữa các nước tư bản thắng trận với nước tư bản bại trận. – Giữa nhân dân thuộc địa với đế quốc xâm lược. – Giữa các nước tư bản thắng trận với nhau. → Nền hòa bình do trật tự mới tạo ra chỉ tạm thời, mỏng manh. – Hệ quả: + Làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước đế quốc về vấn đề thị trường, thuộc địa. + Góp phần làm cho bản đồ chính trị châu Âu thay đổi căn bản. – Đế quốc Áo – Hung tan rã, nhiều quốc gia mới ra đời. – Nhiều nước thay đổi về lãnh thổ, biên giới… 2. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) – Nguyên nhân: các nước tư bản sản xuất ồ ạt, chạy đua theo lợi nhuận trong khi đời sống của người lao động không được cải thiện. → Cung vượt quá cầu, hàng hóa ế thừa → khủng hoảng thừa. – Phạm vi, quy mô: + Ngày 29/10/1929, bùng nổ tại Mĩ trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng → lan sang các lĩnh vực khác. + Từ Mĩ lan ra toàn bộ thế giới tư bản. – Hậu quả: + Tàn phá nặng nề nền kinh tế các nước tư bản. + Đẩy nhân dân lao động lâm vào cảnh nghèo đói. Phong trào đấu tranh của quần chúng dâng cao. + Quan hệ quốc tế chuyển biến phức tạp: – Hai khối đế quốc đối lập nhau hình thành. – Nguyên cơ chiến tranh thế giới mới đến gần. NƯỚC ĐỨC TRONG NHỮNG NĂM 1929 – 1939 1. Tình hình nước Đức những năm 1929 – 1933 – Chịu tác động nặng nề từ khủng hoảng 1929 – 1933: + Kinh tế: Sản xuất công nghiệp giảm mạnh, nhiều nhà máy, xí nghiệp đóng cửa. + Xã hội: Hàng triệu người thất nghiệp, phong trào đấu tranh của quần chúng lên cao. + Chính trị: Khủng hoảng chính trị trầm trọng. – Đảng Quốc xã lên cầm quyền: + Tháng 1/1933, Hit-le (thủ lĩnh Đảng Quốc xã) lên cầm quyền. Chủ nghĩa phát xít thắng thế ở Đức. → Mở ra thời kì đen tối trong lịch sử nước Đức. + Nguyên nhân: – Giai cấp tư sản Đức không đủ sức mạnh để duy trì nền cộng hòa tư sản. – Đảng Quốc xã ra sức tuyên truyền, kích động tư tưởng phục thù, mở rộng ảnh hưởng trong quần chúng. – Giới đại tư bản tài chính ủng hộ lực lượng phát xít. – Đảng Xã hội từ chối hợp tác với Đảng Cộng sản trong đấu tranh chống phát xít. – Truyền thống quân phiệt ở Đức. 2. Chính sách của chính phủ Hít-le trong những năm 1933 – 1939 – Chính trị: + Công khai khủng bố các đảng phái tiến bộ, đặt Đảng Cộng sản ngoài vòng pháp luật. + Thủ tiêu nền cộng hòa Vai-ma. + Thiết lập nền chuyên chính độc tài do Hít-le làm thủ lĩnh tối cao. – Kinh tế: + Tổ chức nền kinh tế theo hướng tập trung mệnh lênh, phục vụ nhu cầu quân sự. + Lập Tổng hội đồng kinh tế để điều hành hoạt động của nền kinh tế quốc dân. – Đối ngoại: + Rút khỏi Hội Quốc liên để được tự do hành động. + Tổng động viên, xây dựng quân đội thường trực. + Triển khai các hoạt động quân sự ở châu Âu. – Những chính sách hiếu chiến và phản động trên tất cả các mặt, thể hiện bản chất của chủ nghĩa phát xít. – Mục đích: đưa Đức ra khỏi khủng hoảng kinh tế, chuẩn bị chiến tranh xâm lược để chia lại thị trường thế giới. – Hệ quả: Đức trở thành một trại lính khổng lồ, lò lửa chiến tranh xâm lược ở châu Âu và thế giới. NƯỚC MĨ TRONG NHỮNG NĂM 1929 – 1939 1. Khủng khoảng kinh tế 1929 – 1933 – Nguyên nhân bùng nổ: + Sản xuất ồ ạt, chạy đua theo lợi nhuận, theo chủ nghĩa tự do thái quá. + Đời sống của người lao động chưa được cải thiện tương ứng với sự phát triển của nền sản xuất. + Ngày 29/10/1929, cuộc khủng hoảng bùng nổ, bắt đầu từ lĩnh vực tài chính – ngân hàng lan sang các ngành kinh tế khác. + Khủng hoảng lên tới đỉnh điểm vào năm 1932. – Hậu quả: + Chấm dứt thời kì phát triển hoàng kim của nền kinh tế Mĩ. + Tàn phá nặng nề tất cả các ngành kinh tế của Mĩ. + Hàng triệu người thất nghiệp, làn sóng đấu tranh của quần chúng lên cao → đe dọa sự tồn tại của nền cộng hòa tư sản. – Biện pháp giải quyết – thực hiện “Chính sách mới”: + Là một hệ thống các biện pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước trong đời sống kinh tế, đưa Mĩ thoát khỏi khủng hoảng. + Gồm các đạo luật: Ngân hàng, phục hưng công nghiệp; cứu tế xã hội; điều chỉnh nông nghiệp,… + Kết quả: – Phục hồi, phát triển sản xuất. – Xoa dịu mâu thuẫn giai cấp. – Củng cố và duy trì nền cộng hòa tư sản. 2. Chính sách ngoại giao 1933 – 1939 – Đối với các nước Mĩ Latinh: Thực hiện chính sách “láng giềng thân thiện”. → Xoa dịu cuộc đấu tranh chống Mĩ, củng cố vị thế của Mĩ ở Mĩ Latinh. – Thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô nhưng không từ bỏ lập trường chống cộng sản. – Đối với các vấn đề quốc tế: Thực hiện chính sách “trung lập” → Tạo điều kiện cho các lực lượng phát xít (Đức,..) tự do hành động. NHẬT BẢN TRONG NHỮNG NĂM 1929 – 1939 1. Tác động từ cuộc khủng hoảng 1929 – 1933 – Kinh tế: Sản xuất bị giảm sút trầm trọng, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. – Xã hội: + Hàng triệu người thất nghiệp, sống trong cảnh nghèo đói, túng quẫn. + Các cuộc đấu tranh của nhân dân lao động diễn ra sôi nổi. 2. Quân phiệt hóa bộ máy nhà nước – Mục đích: Khắc phục hậu quả của khủng hoảng kinh tế, giành giật và bành trướng thuộc địa. – Đặc điểm: + Kéo dài trong suốt thập niên 30 do những bất đồng trong nội bộ giới cầm quyền. + Quân sự hóa đất nước: thủ tiêu tự do dân chủ, đàn áp nhân dân. + Gây chiến tranh xâm lược, bành trướng ra bên ngoài (xâm lược Trung Quốc làm bàn đạp tấn công châu Á). – Hệ quả: Nhật Bản thực sự trở thành lò lửa chiến tranh ở Châu Á và trên thế giới. 3. Nhân dân Nhật đấu tranh chống chủ nghĩa quân phiệt – Thời gian: Diễn ra sôi nổi trong suốt những năm 30 của thế kỉ XX. – Lãnh đạo: Đảng Cộng sản Nhật Bản. – Lực lượng: Đông đảo các tầng lớp nhân dân Nhật Bản. – Hình thức: Phong phú, đa dạng: biểu tình, bãi công, thành lập Mặt trận nhân dân,… – Kết quả: Bị giới cầm quyền đàn áp dã man. – Ý nghĩa: Làm chậm quá trình quân phiệt hóa bộ máy Nhà nước ở Nhật.
II. HỆ THỐNG CÂU HỎI ÔN LUYỆN